Tư vấn tội hiếp dâm theo quy định của BLHS

  08/04/2016

Tội hiếp dâm  theo quy định của luật hình sự

Mọi thông tin pháp lý liên hệ tổng đài 19006213 để được hỗ trợ tốt nhất.

Bộ luật hình sự quy định về tội hiếp dâm như sau:

Điều 111. Tội hiếp dâm 

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật  từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5.  Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Phân tích tội hiếp dâm theo quy định của bộ luật hình sự:

Khách thể của tội phạm: Hiếp dâm là hành vi của một người hoặc một số người dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân, hoặc thủ đoạn khác để giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ.

Tội phạm này xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ; nhân phẩm, danh dự, sức khỏe của người phụ nữ; trật tự an toàn xã hội.

Mặt khách quan của tội phạm: mặt khách quan của tội phạm thể hiện bằng hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cáu với nạn nhân trái ý muốn của họ.

Dùng vũ lực được hiểu là dùng sức mạnh về thể chất như: vật ngã, giữ chân tay, bịt miệng, bóp cổ, đám đá, trói, xé quần áo nạn nhân….

Người phạm tội nhằm làm mất khả năng chống cư của nạn nhân để thỏa mãn dục vọng.

Đe dọa dùng vũ lực là dùng lời nói hoặc cử chỉ, động tác nhưng chưa tác động trực tiếp vào người nạn nhân để nạn nhân hiểu rằng nếu không cho thủ phạm giao cấu thì có thể bị sử dụng vũ lực ngay.

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân như nạn nhân một mình trong khu rừng vắng, trong đêm tối…

Dùng thủ đoạn khác là người phạm tội có hành vi de dọa dùng vũ lực uy hiếp tinh thần hoặc dồn ép họ hay lợi dụng tình thế không thể chống cự….làm cho họ khiếp sợ. Có trường hợp dùng chấy gây mê đề làm cho nạn nhân ngất xỉu, cho uống rươu say, uống thuốc kích dục để giao cấu.

Giao cấu trái ý muốn của họ là giao cấu không được sự đồng ý của nạn nhân. Muốn đánh giá thái độ của nạn nhân phải căn cứ vào diễn biến quá trình phạm tội và sự chống trả, phản ứng của nạn nhân.

Hiếp dâm người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh là trường hợp phạm tội lợi dụng các mối quan hệ gần gũi, niềm tin của nạn nhân như bố mẹ đến với con cái, thầy giáo đối với học sinh, thầy thuốc đối với bệnh nhân…để thực hiện hành vi hiếp dâm.

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm có hành động giao cấu, không cần căn cứ là đã giao cấu xong hay chưa. Nếu người phạm tội chỉ mới có hành vi dùng bạo lực hoặc thủ đoạn khác nhưng chưa kịp giao cấu thì bị chặn lại thì phạm tội chưa đạt. Nếu nửa chừng chấm dứt tội phạm thì người phạm tôi phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi thực tế đã gây ra như gây thương tích, làm nhục người khác….

Chủ thể của tội phạm: là những người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt khách quan của tội phạm: tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp

Hình phạt: điều luật quy định 4 khung hình phạt

Khung 1: quy định hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm và được áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có tình tiết đinh khung tăng nặng ( khoản 1).

Khung 2: quy định hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm và được áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Có tổ chức

+ Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

+ Nhiều người hiếp một người;

+ Phạm tội nhiều lần;

+ Đối với nhiều người;

+ Có tính chất loạn luân;

+ Làm nạn nhân có thai;

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật  từ 31% đến 60%;

+ Tái phạm nguy hiểm.

Khung 3: quy định hình phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân đến tử hình áp dụng đối với trường hợp phạm tội trong các trường hợp sau đây:

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

+ Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

+ Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

Khung 4: Quy định khung hình phạt tù từ năm năm đến mười năm áp dụng đối với trường hợp hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Để xác định tuổi của nạn nhân, căn cứ vào giấy khai sinh của người đó.

Phạm tội đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại khác khoản đó

Hình phạt bổ sung: người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Một số vấn đề cần lưu ý: nếu ban đầu nạn nhân kháng cự nhưng sau đó lại thuận tình thì không phạm tội hiếp dâm mà phạm tội cưỡng dâm.

Mọi nhu cầu xin liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ: Công ty Luật DFC, phòng 12B05, tòa nhà CT1, KĐT Văn Khê, Hà Đông Hà Nội. Hotline: 1900.6213.

Trân trọng cảm ơn!

 

 

 

Bình luận

Tin tức mới

Luật sư tư vấn luật qua tổng đài:

Gọi: 1900 6213

Luật sư tư vấn luật qua tổng đài:
Tổng đài luật sư trực tuyến:

Gọi: 1900 6213

Tổng đài luật sư trực tuyến:
Về luật sư DFC
Thông tin tuyển dụng

Tuyển 20 sinh viên làm việc theo ca

Tuyển 20 sinh viên làm việc theo ca

Công ty luật DFC tuyển 20 sinh viên làm việc theo ca tại thành phố Hà Nội thuộc các trường đào tạo chuyên ngành pháp lý như: Đại học kiểm sát Hà Nội, Đại học luật Hà Nội, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội và các trường khác đào tạo chuyên nghành luật kh

Đối tác - Khách hàng
Thông tin pháp luật Dân sự

Hàng thừa kế

Hàng thừa kế

Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ

Thông tin pháp luật Hình sự
Hỏi đáp Hình sự
Luật sư hôn nhân
Kiến thức luật đất đai

Các trường hợp thu hồi đất

Các trường hợp thu hồi đất

Để thể hiện sự minh bạch trong thu hồi đất, điều 16 luật đất đai năm 2013 xác định rõ từng trường hợp bị thu hồi đất: a) Thu hồi đất do nhu cầu của Nhà nước Trong quá trình công nghiệp hóa hiện, đại hóa đất nước, Nhà nước với tư cách là chủ

Tư vấn luật đất đai
Kiến thức luật lao động
Luật sư lao động

Số ngày nghỉ hàng năm theo luật lao động?

Số ngày nghỉ hàng năm theo luật lao động?

Chào luật sư DFC! Tôi là lao động của một công ty sản xuất giày dép xuất khẩu, tôi muốn hỏi số ngày nghỉ phép của tôi hàng năm là được bao nhiêu ngày theo quy định của pháp luật?

Tư vấn luật lao động

Tư vấn bồi thường tai nạn lao động

Tư vấn bồi thường tai nạn lao động

Thưa luật sư:, trong lúc làm việc tại công ty, tôi đã bị tai nạn lao động và mất đi một bàn tay không thể nối lại được. Sau đó công ty không đến thăm và cũng không nói gì đến vấn đề trách nhiệm của công ty với người bị tai nạn lao động? Xin hỏi liệu tô

Kiến thức luật doanh nghiệp
Dịch vụ Doanh nghiệp
Tư vấn luật doanh nghiệp
Kiến thức pháp luật thuế
Dịch vụ luật sư thuế
Tư vấn luật thuế
Luật sư tranh chấp hợp đồng

Tìm hiểu về tranh chấp hợp đồng

Tìm hiểu về tranh chấp hợp đồng

1. Khái niệm Tranh chấp Hợp đồng: Là sự mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ Hợp đồng liên quan đến việc thực hiện (hoặc không thực hiện) các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng.

Kiến thức giải quyết tranh chấp hợp đồng